Saturday , July 20 2024

Đông y chữa mất quân bình bàng quang

Bác Sĩ Đặng Trần Hào tốt nghiệp bác sĩ y khoa Đông Phương tại Samra University, Los Angeles, năm 1987, và được mời tham dự hội đồng State Board về Châm Cứu và Đông Dược. Mục này giúp cho ai muốn tìm hiểu về Đông Dược và muốn góp ý cho kho tàng Đông Dược phong phú hơn để phục vụ bệnh nhân. Quý vị có thể liên lạc bác sĩ qua email: [email protected] hoặc điện thoại (714) 714-0564 office và (714) 553-6183 cell.

Bác Sĩ Đặng Trần Hào

Tiểu tiện liên quan tới thận và bàng quang. Thận là một cơ quan điều hòa lượng nước trong cơ thể bằng cách bài tiết và tái hấp thụ, điều hòa chất kiềm toan (acid/base), kích thích tạo hồng cầu, làm mạch máu co thắt lại, thận còn đào thải chất cặn bã từ máu ra nước tiểu, vừa tái hấp thụ nước và muối khoáng cần thiết trong cơ thể. Nhờ vậy máu được thanh lọc và lượng nước trong cơ thể đặc biệt là thể tích máu luôn luôn khoảng 5 lít.

Cả hai quả thận mỗi phút có thể lọc được 1.2 lít máu.

Bàng quang là nơi chứa đựng nước tiểu. Nếu trong bàng quang không có nước tiểu thì áp suất sẽ là zero (0). Nếu nước tiểu khoảng 100 ml thì áp suất có thể tăng lên 10 cm nước. Nếu thể tích nước tiểu tăng lên 300-400 ml áp suất vẫn không thay đổi. Trừ khi bàng quang đầy nước tiểu hoặc bị kích thích đi tiểu thì áp suất có thể tăng lên đến 100 cm nước

Bàng quang được cung cấp bởi ba hệ thống:

-Trực giao cảm sự co bóp của bàng quang

-Đối giao cảm tăng sự co bóp và làm giảm cơ vòng của đường tiểu tiện.

-Thần kinh vận động phát xuất từ cột xương sống ở vùng xương cùng mà ta có thể nín tiểu bằng cách tự co thắt cơ vòng ở đường tiểu.

Bàng quang và thận là một cặp phụ tạng liên hệ dương âm trong ngũ hành. Bàng quang tống nước tiểu ra ngoài khi đòi hỏi và khi bàng quang co bóp để tống nước tiểu thì cơ vòng giữa bàng quang và đường tiểu mở ra để đi tiểu. Sự co bóp bàng quang và sự mở đóng cơ vòng đều được điều khiển bởi dây thần kinh vận động.

Như vậy bất cứ một sự tiểu tiện bất thường nào đều do thần kinh và cơ vòng gây ra chẳng hạn như: đi tiểu nhiều lần, đi tiểu són không ra hết, đi tiểu không giữ được phải đi ngay không són ra quần, hay phải mặc tã,…

Muốn chữa trị những bệnh đi tiểu bất thường chúng ta phải dùng thuốc bổ hay tả bàng quang đều ảnh hưởng tới thần kinh co thắt và cơ vòng của đường tiểu tiện.

-Những vị thuốc bổ bàng quang: tương tự những vị thuốc bổ thận.

-Những vị thuốc thanh nhiệt bàng quang: Cam thảo, long đởm thảo, xa tiền tử, nhân trần.

-Những vị thuốc ấm bàng quang: Ngô thù du, ô dược, hồi hương.

Đi tiểu đêm nhiều lần do thận âm suy

Tại sao thận âm suy lại tiểu tiện đêm nhiều lần? Vì con người là một tiểu vũ trụ, liên quan với đại vũ trụ. Có nghĩa là khi vũ trụ thay đổi từ ngày qua đêm, từ dương qua âm, thì thận cũng phải thay đổi theo cho thích hợp với sự thay đổi ở bên ngoài. Một khi thận suy không đáp ứng được sư thay đổi đó, không thay đổi kịp theo với sự thay đổi từ ngày sang đêm của vũ trụ, nên phần âm và phần dương lại càng cách biệt nhau nhiều hơn. Mà thận và bàng quang là liên hệ biểu lý với nhau, nên thận âm suy gây ra bàng quang suy làm ảnh hưởng niệu đạo, là một cơ tròn không còn đủ dương tính để co thắt và mở ra để đưa nước tiểu ra ngoài theo đúng mệnh lệnh. Lý do thận suy không thể cô đọng được nước tiểu vì sư thẩm tách (dialysis) này cần phải được thận thực hiện một cách hoàn hảo để duy trì nội môi, tức cân bằng hóa chất trong máu.

Theo thời gian và tuổi đời làm thận suy, bộ phận tinh lọc nước tiểu bị giảm năng lực, làm những tế bào trong ống mất dần tính nhạy bén trong việc điều tiết nước tiểu mà gây ra đi tiểu đêm nhiều lần.

Nếu âm suy nhiều sẽ gây ra hư hỏa nhiều, âm ỉ đốt và tiêu thụ tân dịch, làm viêm niệu đạo mà gây ra đi tiểu không thông và nhiễm trùng đường tiểu, có ít máu ra theo nước tiểu hay nhiễm trùng gây lúc nóng, lúc lạnh.

Trong trường hợp này, chúng ta phải chữa trị gốc của bệnh là thận âm suy, cho quân bình âm dương trở lại. Thanh hư hỏa thì tiểu tiện sẽ trở lại bình thường và không còn máu trong nước tiểu nữa. Nếu chúng ta dùng trụ sinh thì chỉ giúp trong giai đoạn nhất thời, cũng rất cần thiết, nhưng sau đó phải chữa nguyên nhân gây ra nhiễm trùng, mới mong hết hẳn. Nếu không, một thời gian ngắn, bệnh trở lại và quý bà thường than phiền và lo sợ nước tiểu thử thường có máu. Trường hợp này Đông Y chữa được.

Bài thuốc
-Phục linh 9 gram
-Sơn thù du 9 gram
-Mẫu đơn bì 6 gram
-Trạch tả 9 gram
-Hoài sơn 9 gram
-Thục địa 12 gram
-Sa tiền tử 9 gram
-Thông thảo 9 gram
-Toan táo nhân 9 gram
-Viễn trí 9 gram
-Thạch xương bồ 9 gram
-Ích trí nhân 9 gram
-Tang phiêu tiêu 9 gram
-Đại táo 3 trái

Tác dụng của các vị thuốc:

-Thục địa: Bổ thận và gia tăng lượng huyết, giảm đau.

-Sơn thù du: Ôn gan và giúp tăng cường sức mạnh cho thận.

-Mẫu đơn: Thanh nhiệt và giảm huyết nóng.

-Sơn dược: Bổ tì và tăng cường thận.

-Phục linh: Thông tiểu tiện, giảm sưng, giảm thấp nhiệt trong tì.

-Trạch tả: Lợi tiểu, bồi bổ tai, giảm ù tai, mắt bớt khô và mờ.

-Sa tiền tử, thông thảo: Thanh nhiệt, lợi tiểu.

-Toan táo nhân, viễn trí, thạch xương bồ: Thanh tâm hỏa, an tâm và ngủ ngon.

-Ích trí nhân, tang phiêu tiêu: Bổ thận và giảm tiểu đêm nhiều lần.

-Đại táo: Bổ máu và phối hợp các vị thuốc.

Thận âm suy và thấp nhiệt trong bàng quang, tiểu đêm nhiều lần và bí tiểu

Như đã trình bày ở trên, thận âm suy thì gây ra tiểu đêm nhiều lần, nhưng nếu thêm thấp nhiệt, cộng với hư nhiệt do thận âm gây ra thì hỏa gia tăng nhiều hơn mà gây ra tiểu đêm nhiều lần và bí tiểu.

Đặc tính của thấp hay bài tiết ra chất đục như nước tiểu đục. Trong trường hợp bàng quang nhiệt, cộng với thấp dễ gây ra sưng và nhiễm trùng đường tiểu. Nếu bị nhẹ thì đi tiểu không thông và không thoải mái, hơi bí và đôi khi có chút máu trong nước tiểu, mắt thường không nhìn thấy. Còn nếu nhiều nhiệt, nước tiểu vàng, đậm đặc, rất khó tiểu và đôi khi nước tiểu có nhiều máu vì đường tiểu tiện bị sưng vì nhiễm trùng, đi tiểu nhiễu từng giọt, đau giang sườn và đau niệu đạo, tức vùng thượng vị, miệng khô, hay khát nước, đau thắt lưng. Rêu lưỡi vàng. Mạch hoạt và huyền.

Trị liệu: Thanh nhiệt, tiêu thấp, thông tiểu và giảm sưng.

Trình Thị Khải Bế Thang
-Nhũ hương chế 9 gram
-Đào nhân 9 gram
-Phục linh 9 gram
-Thông thảo 3 gram
-Hoàng bá 9 gram
-Xích thược 9 gram
-Hoạt thạch 6 gram
-Ý dĩ 9 gram
-Mộc dược chế 6 gram
-Sa tiền tử 9 gram
-Tri mẫu 9 gram
-Đại táo 3 trái

Tác dụng của các vị thuốc:

-Nhũ hương, mộc dược: Trị niệu đạo đau và sưng

-Đào nhân, xích thược: Hành huyết, thông huyết và loãng huyết.

-Phục linh, thông thảo, hoạt thạch, ý dĩ: Lợi tiểu, bí tiểu, thanh nhiệt, giảmđau, tiêu sạn.

-Hoàng bá, thông thảo: Tiêu thấp.

-Sa tiền tử, tri mẫu: Lợi tiểu, thanh nhiệt và tiêu thấp.

-Đại táo: phối hợp các vị thuốc.

Qua những trình bày quan niệm của Đông Y về tiểu tiện bất thường, ngoài những nguyên nhân trực tiếp do thấp nhiệt bàng quang, bị nhiễm trùng đường tiểu tiện hay ung thư nhiếp hộ tuyến gây ra, còn do nhiều nguyên nhân gián tiếp khác như: Phổi, tim nóng, thấp nhiệt tại trung tiêu, trung khí suy, thận âm suy, nguyên khí suy và mệnh môn suy.

Những nguyên nhân gián tiếp này mà chúng ta chỉ trị liệu tại đường tiểu tiện và bàng quang mà thôi, thì sẽ không bao giờ hoàn toàn hết bệnh được, mà đôi khi còn làm cho bệnh nhân thêm chán nản.

Bệnh nhân phải tự quyết định và chọn một phương pháp trị liệu thích hợp cho bệnh tình của mình. [hp]

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *