Thursday , June 13 2024

Đông y chữa bệnh của tỳ vị

Bác Sĩ Đặng Trần Hào tốt nghiệp bác sĩ y khoa Đông Phương tại Samra University, Los Angeles, năm 1987, và được mời tham dự hội đồng State Board về Châm Cứu và Đông Dược. Mục này giúp cho ai muốn tìm hiểu về Đông Dược và muốn góp ý cho kho tàng Đông Dược phong phú hơn để phục vụ bệnh nhân. Quý vị có thể liên lạc bác sĩ qua email: [email protected] hoặc điện thoại (714) 714-0564 office và (714) 553-6183 cell.

Bác Sĩ Đặng Trần Hào

Con người sống được nhờ vào thủy hỏa và khí huyết là chung cho lục phủ ngũ tạng, cũng như thảo mộc cần nước. Lục phủ và ngũ tạng liên quan mật thiết với nhau. Tuy nhiên mỗi tạng phủ có nhiệm vụ riêng về vận hành và sinh lý, do đó nó cũng có bệnh lý riêng và cách trị liệu riêng cho từng tạng phủ.

Tỳ (tụy tạng) 

Tụy tạng còn gọi là lá mía, thân mềm, màu hồng, hình tam giác, kéo dài từ lá lách (spleen) tới ruột tá, ngang qua ổ bụng, phần lớn tụy tạng nằm phía sau màng bụng.

Tụy tạng là nơi chứa phân hóa tố để tiêu thịt, đường và mỡ, là nơi chứa insulin và glucagon để điều hòa lượng đường trong máu.

Sự biến hóa hấp thụ thức ăn và quá trình vận chuyển tân dịch là do sự chung sức hợp tác với nhau của tỳ và vị mà nên việc. Tiêu hóa thức ăn là công năng của vị, mà hấp thụ vận chuyển các chất dinh dưỡng lại cần nhờ vào tỳ.

Trong quá trình tiêu hóa đồ ăn uống hấp thụ chất dinh dưỡng phân bố tân dịch, từ tỳ với vị mỗi thứ làm chủ một mặt, nhưng hai thứ này ảnh hưởng  lẫn nhau vì thế tỳ có tính thấp (ướt) và khí đi nghịch lên trên, còn vị có tính chất khô mà chủ việc đưa xuống, tỳ thấp vị táo, táo với thấp cùng làm việc chung nấu thức ăn mới được kiện toàn tiêu hóa. Tính vị chủ đưa xuống cho nên cơm nước mới được đưa xuống dưới. Tính tỳ chủ đưa lên, cho nên tân dịch nhờ đó mới được tiếp thu, vì tỳ vị thuộc hành mộc, cho nên mộc thấp, mộc táo, mộc thăng, mộc giảm mới có thể vận chuyển được toàn bộ thức ăn. Vì tỳ thuộc trung ương của hậu thiên là chủ lục phủ ngũ tạng vì rằng phân hóaa thức ăn cho lục phủ ngũ tạng. Mạch của tỳ ở hữu quan.

Tỳ còn làm chủ về chân tay, cơ nhục tươi tốt ra ở môi và đặc biệt là tỳ thống huyết.

Tỳ có quan hệ chặt chẽ với huyết, huyết là tinh khí của đồ ăn uống hóa ra, bắt nguồn từ trung tiêu tỳ vị cho nên tỳ là nguồn sinh ra huyết và tâm là tạng phủ về huyết.

Tỳ không những sinh ra huyết mà còn có nhiệm vụ thống nhiếp huyết dịch. Tỳ khí khỏe mạch mới có thể duy trì được sự vận hành bình thường của huyết dịch mà không bị tràn ra ngoài. Nếu tỳ khí suy, mất chức năng thống nhiếp huyết dịch sẽ chảy tràn ra ngoài mạch mà xuất hiện ra các chứng xuất huyết khác nhau. 

Những vị thuốc về tỳ: 

-Bổ tỳ: Bổ tỳ khí gồm bạch truật và thương truật, bạch truật không phát hãn, nhưng thương truật thì phát hãn.

-Bổ âm cho tỳ: Thục địa và long nhãn nhục. Vì thục địa vị hàn nên phải sao cho giảm hàn và khô vì tỳ thích khô ráo, ngoài ra còn hoài sơn, bạch biển đậu, ý dĩ nhân, táo tàu và cam thảo.

-Tả tỳ: Có nghĩa là tả tỳ khí làm chướng ở trung tiêu, đầy hơi, ăn không ngon, hay ăn không dược nhiều vì tỳ đi nghịch khí như: Mộc hương, chỉ thiệt, lai phục tử, hậu phát, chỉ xác, trần bì, binh lặng(hạt cau).

-Ôm tỳ: Phụ tử, can khương, nhục đậu khấu, đại hồi, thảo quả, sa nhân, hồ tiêu, mộc hương.

-Tiêu thực: Thần khúc, sơn tra tiêu thịt mỡ, mạch nha tiêu tinh bột.

-Thanh tỳ: Đại hoàng, hoàng cầm, hoàng bá, tri mẫu… 

Những bài thuốc về tỳ:

 1. Bổ tỳ khí:

Bài thuốc
Đảng sâm 9 gram
Bạch truật 9 gram
Bạch linh 6 gram
Cam thảo 3 gram
Can khương 6 gram
Táo tàu 3 trái

Bài thuốc này để chữa những người tỳ khí suy, ăn không ngon, bạc nhựơc, hay thở ngắn, tay chân yếu, lười cử động. bài này kiện cho tỳ khí hư và phế khí nhược.

Về dược tính thì sâm bổ khí, bạch truật sao kiện tỳ, bạch linh thẩm thấp và phạt can thận để hành mộc và hành thủy không hại được tỳ thổ, cam thảo hòa trung và nhập tỳ.

Gia giảm:

-Bệnh mới khỏi muốn tiêu thực thì gia thêm trần bì.

-Còn đàm nhiều thì gia thêm trần bì, bán hạ, hậu phát.

-Khí hư nhiều thì tăng sâm.

-Lạnh thì thêm phụ tử, quế bì.

-Đầy bụng gia mộc hương, binh lăng

2. Bổ huyết cho tỳ: (của Lãng Ông)

Bạch truật 120 gram
Sâm hoa kỳ 60 gram
Thục địa 30 gram
Can khương 3 gram (sao đen)
Long nhãn 21 gram
Cao ban long 30 gram

Nấu năm vị trên ba lần, lấy nước cô lại thành cao và bỏ cao ban long vào khuấy đều, để nguội, mỗi lần uống một muỗng canh với nước sắc liên nhục (hạt sen).

Bài này chỉ chữa cho người tỳ âm yếu, ăn uống không được, người gầy, da thịt khô, trong bụng cảm thấy phiền, khát, khô khan và ăn không tiêu.

Tuy bổ âm mà vẫn phải dùng bạch truật, vì không có bạch truật thì không giữ dương khí cho tỳ, mà còn sao với sữa, mà nấu thành cao thì đã hết khô ráo của vị bạch truật. Hơn nữa sâm, thục, cao ban long, long nhãn là những vị thuốc nhuận, cộng lại thang 4.7 lượng nặng hơn 4 lượng bạch truật.

Cao ban long ngày nay rất khó tìm, cho nên có thể sửa đổi như sau:

Sâm hoa kỳ 6 gram
Thục địa 18 gram
Bạch truật 15 gram (ngâm sữa, sao kỹ)
Long nhãn 12 gram
Mạch môn đông 6 gram
Can khương 3 gram (sao đen)

Sắc uống, mạch môn tính nhuận hợp với sâm, thục, long nhãn 30 gram, gấp đôi bạch truật. [hp]

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *